Lịch sử Android: Từ bị chê bai thành kẻ thống trị

Hệ điều hành Android của Google đã trải qua một quá trình thay đổi kỳ diệu chỉ trong vòng 3 năm ít ỏi kể từ khi ra mắt trên điện thoại T-Mobile G1. 3 năm với 8 phiên bản được phát hành. Hãy so sánh với Windows – hệ điều hành phổ biến nhất trên thế giới. Trong hơn 25 năm xuất hiện trên thị trường bán lẻ, Windows chỉ có khoảng 10 phiên bản chính nâng cấp cho người dùng. Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng chưa từng có một công nghệ nào trong lịch sử phát triển nhanh như Smartphone và Android đã được hưởng lợi từ chính sự phát triển đó.
Cùng với sự kiện phát hành phiên bản Android 4.1 — Jelly Bean trên điện thoại Galaxy Nexus của Samsung và Nexus 7 của Asus, chúng tôi muốn tổng kết lại sự phát triển của Android - đứa con cưng của Andy Rubin, vị quan chức phụ trách Google Android. Những điều gì đã thay đổi ? Những điều gì (đôi khi là cứng đầu) không thay đổi ?
Nơi mọi thứ bắt đầu

Kỷ nguyên Android chính thức bắt đầu vào ngày 22 tháng 10 năm 2008 khi điện thoại T-Mobile G1 phát hành tại Mỹ. Ban đầu, Android thiếu rất nhiều tính năng trong khi những tính năng đó gần như là một phần không thể thiếu của những phiên bản hiện tại. Ví dụ như bàn phím ảo trên màn hình, khả năng cảm ứng đa điểm và các ứng dụng trả tiền. Tuy vậy nhưng nền tảng của Android vẫn được đặt đúng chỗ và một số thương hiệu cũng ra mắt trên chính những chiếc điện thoại G1 đầu tiên được xuất xưởng.
Cửa sổ thông báo: Rõ ràng là những chiếc điện thoại đầu tiên sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhưng hầu như mọi người đều biết rằng Android vẫn giữ nguyên hệ thống thông báo ngay từ những ngày đầu tiên trong khi iOs phải mất thêm 3 năm trước khi đưa ra thiết kế về việc phân loại tin nhắn và chuông báo do số lượng các ứng dụng di động được người dùng sử dụng ngày càng nhiều hơn. Bí quyết nằm ở thanh Status đọc đáo của chiếc G1. Người dùng có thể kéo thanh Status xuống để xem tất cả các thông báo trong một danh sách duy nhất, bao gồm tin nhắn văn bản, thư thoại, báo thức, v…v... Tính năng cơ bản này thậm chí vẫn được sử dụng trong phiên bản 4.0 ngày nay.
Các Widget trên Home screen. Nếu bạn phải chọn ra một sự khác biệt đọc nhất của Android với có thể là iOS 5 hoặc Windows Phone 7.5 thì đó chính là những Widget trên Home Screen. Ngay từ giai đoạn đầu tiên, Google đã lên các kế hoạch với quy mô lớn cho các Widget nhưng đã bị hoãn lại do các nhà lập trình không thể tạo ra được các Widget của mình.
Tương thích với Gmail. Khi G1 được phát hành thì Gmail đã tồn tại từ lâu khi Gmail hỗ trợ giao thức POP và IMAP để tương thích với các phần mềm đọc thư điện tử trên di động. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ cả 2 giao thức này đều không thực sự phù hợp để hỗ trợ cho một số tính năng độc của Gmail, ví dụ như lưu trữ (archival) và dán nhãn (labeling). Phiên bản Android 1.0 đã cố gắng rất nhiều để khắc phục điều này.
Android Market. Thật khó có thể tưởng tượng rằng một Smartphone hiện nay mà không có một kho ứng dụng tập trung nhưng ngay khi lần đầu tiên xuất hiện, Android đã làm như vậy vào thời điểm bắt đầu của cuộc cách mạng ứng dụng di động. Thật vậy. Android Market trên những chiếc G1 đầu tiên gần như không giống với Android Market ngày này. Thời đó, Android Market chỉ có một vài ứng dụng (vì một số người sẽ chờ đợi một hệ điều hành hoàn toàn mới) và không có sự quản lý đa dạng, nhiều mặt (điều này đã được bổ sung vào 2 phiên bản Android gần nhất). Android Market chỉ có một hàng duy nhất các lựa chọn được chọn lọc cẩn thận phía trên màn hình Home screen. Có lẽ điều quan trọng hơn là Android Market thiếu sự hỗ trợ cho hệ thống thanh toán. Đây cũng là một vấn đề không thể giải quyết trong năm tới.
Điều đáng chú ý là Google đã phát triển giao diện người dùng của phiên bản Android 1.0 với sự giúp đỡ của The Astonishing Tribe (TAT), một doanh nghiệp thiết kế tương tác của Thụy Điển chịu trách nhiệm thiết kế một số giao diện thật đặc biệt trong nhiều năm qua. Nếu bạn nhìn thật kỹ, bạn có thể thấy TAT luôn để lại dấu ấn của mình. Ví dụ như trên đồng hồ analog trong phiên bản Android 1.0 đến 2.2, ta có thể đọc thấy chữ “Malmo” nhỏ, màu xám nhạt gần phía dưới của mặt đồng hồ. Thành phố Malmo, Thụy Điển chính là nơi TAT đặt trụ sở chính của mình. Sau đó TAT đã được RIM (Research in Motion) - 1 công ty điện tử của Canada, mua lại để hoàn toàn tập trung vào việc phát triển nền tảng BlackBerry và BBX. Và dĩ nhiên là sự hợp tác giữa Google và TAT đã kết thúc từ đó.
Android 1.1

Android lần đầu tiên nâng cấp phiên bản của mình vào tháng 2 năm 2009, chỉ hơn 3 tháng sau khi phát hành G1. Phiên bản 1.1 không phải là một cuộc cách mạng như mọi người tưởng. Nó chủ yếu sửa lại các lỗi của phiên bản trước. Điều này đã xác nhận một lần nữa khả năng tung ra các bản update thông qua OTA (over the air) và làm cho người dùng dễ dàng cài đặt hơn. Vào thời điểm đó. Đây là một phi vụ lớn mà không có hãng smartphone lớn nào thực hiện.
Món tráng miệng: 1.5 "Cupcake"
Sự ra đời của Android 1.5, phiên bản được nhiều người biết đến với biệt danh “cupcake” đã đánh dấu một sự kiện vô cùng quan trọng. Phiên bản này không chỉ bổ sung một số tính năng đã được dự báo trước giúp cho Android có thể cạnh tranh với các đối thủ mà còn là phiên bản đầu tiên sử dụng cách thức đặt tên rất “ngọt ngào” của Google. Các phiên bản sau Cupcake đều được đặt tên theo tên của các loại bánh kẹo và theo thứ tự trong bảng chữ cái. Hi vọng rằng xu hướng này sẽ tồn tại lâu dài.
Phiên bản Cupcake đã được thiết kế và khắc phục lỗi trên giao diện người dùng của phiên bản trước. Một vài thay đổi gần như không thể trông thấy nếu như bạn không chú ý. Ví dụ như tiện ích Google search trên màn hình Home screen của người dùng đã trở nên rõ rang hơn và thư mục app drawer được trang trí bằng các họa tiết hoa văn tinh tế bên dưới các biểu tượng.
Hãy xem hình ảnh bên dưới để thấy được những thay đổi tinh tế của phiên bản Cupcake. Nếu bạn đã sử dụng phiên bản 1.1 rồi đến 1.5 thì có lẽ bạn sẽ không thể nhân ra điều gì khác biệt. Tuy nhiên thực tế là mọi thứ từ căn lề đến bóng trên thanh Status đều đã được điều chỉnh cẩn thận.

Hầu hết những người dùng điện thoại G1 cõ lẽ đều không chú ý đến các tinh chỉnh giao diện người dùng vì Google mang đến rất nhiều tinh năng mới cực kỳ hấp dẫn, đáng chú ý:
Bàn phím ảo trên màn hình. Thật tuyệt vời khi nghĩ rằng Google có thể phát hành Android mà không cần bất kỳ một loại bàn phím ảo nào nhưng đó chính là điều mà Google đã làm được. Điều này giúp ta hiểu được tại sao thiết bị sử dụng Android đầu tiên trên thị trường bán lẻ lại là bàn phím QWERTY trượt và phải đến khi phiên bản Cupcake được phát hành (vào tháng 4 năm 2009, nửa năm sau khi phát hành G1) thì ta mới thấy chiếc điện thoại đầu tiên chỉ có màn hình cảm ứng trên thị trường, HTC Magic

Cùng với sự hỗ trợ của bàn phím ảo, Google đã có một bước tiến quan trọng khi tích hợp sẵn các hooks cần thiết để các đối tác có thể tạo bàn phím thay thế cả riêng mình. Điều này có thể sẽ tiếp tục tạo nên sự khác biệt giữa Android với các đối thủ cạnh tranh do cả iOS hay Windows Phone đều không hỗ trợ tính năng này, Vào thời điểm phát hành Cupcake, bàn phím ảo của Android thua kém xa so với iOS về độ chính xác và tốc độ. Điều đó đã khiến các nhà sản xuất thiết bị như HTC nhanh chóng phát triển các phương án thay thế trên thiết bị của mình.
Các Widget mở rộng. Tuy hai phiên bản 1.0 và 1.1 đã có các Widget nhưng vẫn chưa được tận dụng triệt để do Google không cung cấp SDK cho các nhà lập trình. Chỉ có một vài widget có sẵn trong máy. Điều này đã được thay đổi trong phiên bản 1.5. Và ngày nay, rất nhiều ứng dụng phát hành các widget có sẵn cho người dùng. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng giúp Android có thể tiếp vận hành màn hình chủ một cách linh hoạt nhất
Cải tiến Clipboard. Android thực sự đã phải rất vất vả để có thể nhận được sự ủng hộ hoàn toàn cho tính năng copy và paste. Android hỗ trợ tính năng này ngay từ ngày đầu tiên nhưng hạn chế links. Điều này đồng nghĩa với việc bạn sẽ không thể copy đoạn text ra khỏi trình duyệt hoặc Gmail. Tuy nhiên phiên bản Cupcake đã bổ sung thêm hỗ trợ đối với trình duyệt cho phép bạn có thể copy các đoạn text đơn giản ra khỏi trang web
Quay và xem video. Một smartphone ngày nay được phát hành mà không có hỗ trợ video thì quả là điều không tưởng nhưng đó lại là tình trạng người dùng gặp phải khi mua T-Mobile G1. Phiên bản Cupcake sẽ khắc phục vấn đề này nhưng cũng giống như bàn phím ảo của Android, giao diện Camera đi kèm chính là một trong những phần tệ nhất của hệ điều hành này và các nhà sản xuất đã phải nhanh chóng thay thế bằng các giao diện cải tiến hơn, thường xuyên bổ sung hỗ trợ cho phần chế độ, lựa chọn và các tiện ích như touch-to-focus (chạm tay lấy nét)
Và nhiều điều khác. Các cập nhật khác trên phiên bản Cupcake bao gồm rất nhiều các thao tác trên Gmail (trước phiên bản 1.5, bạn không thể xóa hoặc lưu nhiều email cùng một lúc), hỗ trợ upload trên YouTube và Picasa và truy cập vào danh bạ mọi nơi như màn hình danh bạ, tin nhắn và từ Gmail. (Tính năng đồng bộ hóa các thông tin liên lạc thông qua nhiều ứng dụng và màn hình chính là định hướng cho các phiên bản Android tiếp theo, cụ thể là phiên bản 2.0)
1.6 "Donut"
Dù không phải là một phiên bản nâng cấp lớn như Cupcake nhưng phiên bản Android 1.6 Donut vẫn là một phiên bản cao hơn so với 1.5. Phiên bản 1.6 đã bổ sung thêm một số cải tiến về hình ảnh với nhiều ứng dụng mới và cập nhât. Tuy nhiên, nhiều thay đổi quan trong nằm ở bên trong. Ví dụ như hỗ trợ CDMA lần đầu tiên được đưa vào phiên bản Donut giúp mở đường đến thị trường di động Mỹ thông qua các nhà mạng như Verizon và hàng trăm triệu thuê bao ở khu vực Châu Á.
Tuy nhiên, có lẽ không có sự thay đổi bên trong nào có tác động mạnh mẽ lên Android bằng sự thay đổi về độ phân giải độc lập. Donut đánh dấu lần đầu tiên Android có thể chạy trên nhiều tỷ lệ khung hình và độ phân giải màn hình cho phép các điện thoại có thể thể hiện các bức hình 320 x 480 theo kiểu chân dung. Ngày nay, nếu bạn chu ý đến dòng sản phẩm Android thì bạn có thể thấy rất nhiều chiếc điện thoại với rất nhiều độ phân giải như QVGA, HVGA, WVGA, FWVGA, qHD, và 720p. Điều đặc biệt là khả năng nhân rộng đó bắt nguồn trực tiếp từ phiên bản Android 1.6
Ngoài ra, Donut cũng đưa ra khái niệm Quick Search Box, tương như tính năng "universal search" trong thế giới di động. Các phiên bản trước Donut, khi ấn nút Search trên bàn phím của điện thoại với hệ điều hành Android thì trên màn hình chủ sẽ xuất hiện Google search box để tìm kiếm trên Internet và không có gì khác biệt so với việc truy cập vào google.com và search. Với các nâng cấp của Donut, bạn có thể tìm rất nhiều nội dung bên trong như các ứng dụng, danh bạ, v…v… cùng lúc với tìm kiếm trên internet chỉ từ 1 Box duy nhất. Thêm vào đó, Donut cung cấp các chức năng cho những nhà lập trình để người dùng cũng có thể dễ dàng tìm kiếm được các ứng dụng của họ.
Những tính năng mới lần đầu xuất hiện trên phiên bản Android 1.6 là gì? Android Market được thiết kế lại với 2 màu trắng và xanh gần gũi với biểu tượng của Android. Trong Android Market, ta có thể thấy top những ứng dụng miễn phí và phải trả phí. Điều này đặc biệt quan trọng khi danh mục các ứng dụng bắt đầu được phát hành. Giao diện Camera cũng được thiết kế lại với khả năng tích hợp bộ sưu tập tốt hơn và giảm độ đáng kể lag khi chụp ảnh. Mặc dù phiên bản 1.6 không phải chịu nhiều sự chỉ trích như phiên bản trước những Google vẫn sẽ thay đổi camera cho đến tận phiên bản 2.3. Mặc dù vậy nhưng hầu hết người dùng đều không nhận biết được những thay đổi đó.
2.0 / 2.1 "Eclair"
Đầu tháng 11 năm 2009, khoảng 1 năm sau khi ra mắt G1, Android 2.0 (còn được gọi là Eclair) được phát hành ngay sau phiên bản Donut. Đây thực sự là một thương vụ lớn với nhiều hứa hẹn được sử dụng trên những chiếc điện thoại lớn do các hãng điện thoại hàng đầu sản xuất. Ban đầu Eclair được cung cấp duy nhất trên Verizon và chỉ trên điện thoại Motorola Droid, chiếc điện thoại đã khởi động cho một trong những thương hiệu di động thành công nhất trong lịch sử.

Vậy, điều gì đã làm cho Eclair trở nên quan trọng đến vậy? Eclair đã tạp nên một sức sống mới vào Android kể từ khi Android ra mắt công chúng. Với màn hình 854 x 480 chưa từng có, có thể khẳng định rằng Droid là chiếc điện thoại mạnh mẽ nhất trên thế giới tại thời điểm đó. Ngoài ra, việc cải thiện đáng kể những yếu tố cơ bản của Android cũng đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của thiết bị này.
Hỗ trợ nhiều tài khoản. Lần đầu tiên, bạn có thể thêm nhiều tài khoản Google vào cùng một thiết bị và truy cập vào email và danh bạ từ mỗi tài khoản. ngoài ra, Eclair cũng hỗ trợ tính năng Exchange accounts
Eclair cũng cung cấp cho các nhà lập trình các công cụ họ cần để đưa các dịch vụ của mình vào khuôn khổ tài khoản. Điều này sẽ cho phép các dịch vụ được tiếp tục tự động đồng bộ hóa. Một lợi ích quan trọng mà Eclair cung cấp đó là thông tin được chia sể giữa các loại tài khoản của bạn có thể sẽ được tự động đồng bộ hóa vào một danh sách duy nhất trên điện thoại cho tất cả các thông tin về các cá nhân trong danh bạ của bạn. Trang mạng xã hội Facebook là một trong những nơi ứng dụng chức năng này sớm nhất nhưng thực tế là chức năng này đã được sử dụng trên Droid. Tuy nhiên, sau một cuộc tranh cãi với Google về việc thông tin liên lạc được đồng bộ hóa của Facebook cuối cùng được lưu trữ ở đâu thì đặc quyền đồng bộ tài khoản của Facebook đã bị thu hồi
Tính năng chỉ đường trên Google Maps. Thậm chí đây vẫn là một nhân tố quan trọng tiếp tục tác động đến thị trường ngày nay. Phát hành kết hợp với Android 2.0, tính năng chỉ đương trên Google Maps (Google Maps Navigation) là một ứng dụng chỉ đường tự động hoàn toàn miễn phí sử dụng dữ liệu trên bản đồ của chính Google để hướng dẫn đường đi và còn bao gồm rất nhiều tính năng mà bạn muốn ở một hệ thống định vị điển hình trong xe hơi như góc nhìn 3D, hướng dẫn qua giọng nói (gồm cả tên phố) và thông tin giao thông. Trước đây những người lái xe trên đường cần phải cân nhắc lựa chọn giữa phải trả rất nhiều tiền cho một ứng dụng chỉ đường, trả tiền theo tháng hoặc lần chỉ đường cụ thể thì động thái này của Google thực sự mang tính đột phá. Các phiên bản Maps ban đầu vẫn có một số lỗi ví dụ như yêu cầu phải truy cập internet liên tục và không hỗ trợ cache nhưng hệ thống Google Maps Navigation đã được chỉnh sửa ngay sau đó
Liên lạc nhanh. Sau khi phiên bản Cupcake bổ sung thêm Google Talk thì Eclair tiếp tục bổ sung thanh Quick Contact hiển thị lên thanh công cụ pop-up cho phép người dùng tương tác với danh bạ theo nhiều cách như email, tin nhắn, gọi điện v…v… Ngay từ đầu, thanh Quick Contact đã được thiết kế có thể mở rộng giúp cho các loại thông tin khác nhau được đồng bộ vào danh bạ của bạn đều có thể thêm vào thanh Quick Contact.
Cải tiến bàn phím ảo. Giống như chiếc điện thoại G1, chiếc Droid được phát hành cùng với một bàn phím vật lý QWERTY nhưng Google vẫn thấy cần phải tân dụng cơ hội này để giới thiệu về một bàn phím ảo đã được sửa đổi. Mặc dù cảm ứng đa điểm vẫn chưa được hỗ trợ hoàn toàn trên hệ thống, điển hình như cả hai ứng dụng trình duyệt và Maps đều thiếu tính năng Pinch to Zoom (phóng to - thu nhỏ bằng cách chạm vào màn hình cảm ứng) nhưng Eclair đã dùng dữ liệu đa điểm trên bản phím để phát hiện những khi gõ nhanh và ấn 2 lần cùng lúc. Điều này tạo ra sự khác biệt về độ chính xác của những người đánh máy nhanh.
Chỉnh sửa trình duyệt. Như đã nói ở trên, trình duyệt của Eclair vẫn không hỗ trợ phóng to/ thu nhỏ đa điểm nhưng lại nổi bật ở nhiều điểm quan trọng khác. Khi Android 2.0 được phát hành trên một thiết bị với màn hình hiển thị WVGA thì ứng dụng trình duyệt vẫn phụ thuộc vào nhiệm vụ hiển thị các trang web phức tạp và dành cho máy tính bàn. Để giải quyết vấn đề này, Google đã bổ sung hỗ trợ HTML5, bao gồm cả video (mặc dù chỉ hiển thị ở chế độ full-screen). Đây cũng là lần đầu tiên trình duyệt của Android có thanh địa chỉ (address bar) mà google thiết kế để mô phỏng theo Chrome với 2 thanh tìm kiếm. Và để làm giảm đi sự thiếu vắng của cảm ứng đa điểm, phiên bản mới đã bổ sung thêm tính năng double-tap zooming (phóng to/ thu nhỏ bằng cách chạm vào màn hình hai lần). Đây là một sự thay thế khá thuận tiện cho nút bấm phong to/ thu nhỏ.
Thật khó có thể đếm hết được những thay đổi gần như là ở trên toàn bộ màn hình ở phiên bản Eclair. Google vẫn tiếp tục xu hướng thay đổi giao diện người dùng trong phiên bản này nhưng nhìn chung những sự thay đổi trong phiên bản 2.0 có sự gắn kết hơn với các biểu tượng đơn giản hơn và các widget hoạt động mượt mà hơn trong độ phân giải sắc nét hơn. Sau đó phiên bản Android 2.1 được phát hành chỉ sửa một vài lỗi và bổ sung một số khả năng API. Cả 2 phiên bản 2.0 và 2.1 đều được Google đặt tên là Eclair. Tuy vậy, một số thay đổi trong phiên bản 2.1 cũng rất đáng chú ý:
Hình nền sống động. Live wallpapers lần đầu tiên xuất hiện trong phiên bản 2.1. Hiểu một cách đơn giản là thay vì một màn hình tĩnh, hình nền của home screen là một ứng dụng sống động và có thể có tương tác hạn chế với người dùng. Chính Google đã chứng minh được khả năng này khi thêm một hình nền sống vào một cập nhật của Google Maps giúp chuyển màn hình nền thành một chiếc bản đồ với vị trí hiện tại của chiếc điện thoại
Speech-to-text. Google đã cố gắng hoàn thiện tính năng text-to-speech (TTS) và giờ đây người dùng có thể nói vào điện thoại của mình thay vi gõ vào bàn phím thông thường. Để tận dụng tính năng này, Android 2.1 đã thay thế phím “,” (dấu phẩy) trên bàn phím ảo bằng một cái microphone. Dù bạn gõ hay nói thì bạn vẫn sẽ nhận được dấu “,”. Có vẻ như tính năng này sẽ khó có thể thành công khi Apple đã thêm một tính năng tương tự vào bàn phím trong iOS 5
Màn hình khóa mới. Thực tế phiên bản Android 2.0 đã có màn hình khóa mới với tính năng trượt để mở khóa và thanh đổi chế độ âm thanh của điện thoại nhưng tính năng này đã được sửa lại trong phiên bản 2.1. Lần này chức năng chủ yếu vẫn được giữ nguyên nhưng Google đã thay đổi kiểu chữ trên đồng hồ từ kiểu sans serif sang kiểu Android-esque rõ rang hơn, font công nghệ cao và điều chỉnh chức năng mở khóa và âm thanh thành trượt thẳng thay vì trượt theo đường tròn

Dù không phải là một phiên bản cập nhật nổi bật nhưng Android 2.1 đã đánh dấu một bước chuyển chiến lược cho Google. Sau những lo lắng về các đối tác phần cứng của mình và cùng với kinh nghiệm khi phát hành Android, Google đã chọn hợp tác với HTC để tạo ra các thiết bị của riêng mình. Và Nexus One đã ra đời. Đây là một chiếc điện thoại mỏng, không có bàn phím với một trong những bộ xử lý 1GHz Qualcomm Snapdragon đầu tiên trên thị trường và màn hình hiển thị AMOLED tiên tiến với độ phân giải WVGA. Đây thực sự là một chiếc điện thoại đi trước thời đại và là một trong những chiếc điện thoại Android tôt nhất từng được sản xuất.
Google had actually started down this path in Android 2.0 with the Motorola Droid. Google and Moto had worked very closely together in the development of the phone, and the Droid received Eclair well before anyone else did, but it wasn't quite "pure" — the Droid made some user interface tweaks that don't appear in the stock builds of the platform — and Google never sold the Droid to users directly. That changed with the Nexus One.
2.2 "Froyo"
Phiên bản Android 2.2 (Froyo) được phát hành vào giữa năm 2010 và lợi thế của chương trình Nexus băt đầu trở nên rõ ràng khi Nexus One là chiếc điện thoại đầu tiên được nâng cấp. Google đã phải thay đổi rất nhiều thứ trong Froyo. Từ khi bật nguồn lần đầu tiên, màn hình chủ được thiết kế lại là những điểm có thể dễ dàng nhận thấy: 3 trang màn hình cũ (từ phiên bản Android 1.0) được thay thế bằng 5 trang màn hình với một nhóm các shortcut chuyên dụng, trình duyệt web và application launcher (giúp bạn tổ chức danh sách các ứng dụng). Thêm vào đó, các chấm báo 2 bên của Shortcut có chức năng thông báo cho người dùng rằng họ đang xem màn hình nào. Google có lẽ đang chơi trò đuổi bắt khi HTC’s Sence đã làm tất cả những điều này rồi.

Ứng dụng Gallery cũng được thiết kế lại hoàn toàn cho phép thể hiện hiệu ứng 3D lần đầu tiên. Ví dụ khi nghiêng điện thoại thì những hình ảnh cũng sẽ nghiêng trên màn hình và rất nhiều những hiệu ứng chất lượng cao khi di chuyển giữa các galleries và ảnh. Mặc dù vậy ứng dụng này thực sự không phải là biểu hiện cho sự định hướng của Android (thực tế, Google đã giao cho một công ty khác để phát triển ứng dụng này)
Các tính năng nổi bật khác bao gồm hỗ trợ hotspot khiến các hãng di động không thể thu thêm phí khi bán các thiết bị di động với phiên bản Froyo và hỗ trợ tính năng copy / paste trong Gmail giúp khắc phục một trong những thiếu sót lớn vế clipboard . Google cũng bổ sung màn hình khóa PIN / mật khẩu cho những người sử dụng không thích màn hình khóa của Android hoặc yêu cầu bảo mật thông tin hơn. Nhìn chung, khi phát hành phiên bản 2.2, dường như Google đã cho thấy ý định bắt đầu đưa Android tham gia vào môi trường kinh doanh nơi BlackBerry vốn đã nắm giữ một vị thế vững chắc, bất khả xâm phạm.
2.3 “GINGERBREAD”

Nửa năm sau khi Froyo được giới thiệu lần đầu cùng chiếc Nexus One, Google bắt đầu dự án Nexus mới song hành cùng sự ra đời của Android 2.3. Lần nay, Samsung là gã khổng lồ được lựa chọn để trở thành đơn vị sản xuất chiếc Nexus S. Mặc dù Nexus S thực sự không có nhiều cải tiến so với Nexus One, hai chiếc điện thoại này vẫn có hình thức thực sự khác biệt nhờ việc Nexus S được trang bị màn hình sắc nét và bóng bẩy và vỏ ngoài đen tuyền. Với một trackball được tích hợp phía dưới màn hình hiển thị, có vẻ như cuối cùng Google đã nói lời từ biệt với hình thức chuyển hướng sử dụng bàn phím ở giao diện người dùng. Đối với Andy Rubin, việc chuyển đổi này là một quyết định khó khăn do trackball vốn được coi là một đặc trưng riêng biệt ở các sản phẩm của Danger. Tuy nhiên, cuối cùng nhờ có ông, đặc trưng này đã xuất hiện ở G1.
Sự ra đời của Gingerbread thực sự là một sự kiện không quá quan trọng. Tuy vậy, một sự thay đổi lớn trong nền tảng đã thực sự được tạo nên từ những thay đổi không đáng kể của Gingerbread. Đầu tiên, nó mang trong mình sự thay đổi nền tảng quan trọng nhất kể từ phiên bản Eclair: các widget đã được thiết kế lại (bao gồm widget đồng hồ analog “Malmo”), màn hình home có tông màu xanh lá cây và thanh trạng thái được thay đổi hoàn toàn với nền màu đen cùng chữ viết màu trắng. Những thay đổi có vẻ nhỏ nhặt này đã mang lại hiệu quả lớn về giao diện. Hệ điều hành giờ đây trở nên gọn gàng và hiện đại hơn. Nhưng trên thực tế, Google có thể chỉ thực hiện chúng nhằm mục đích tiết kiệm pin và nâng hiệu quả quá trình chạy rà màn hình AMOLED.
Android 2.3 cũng bao gồm nhiều tình năng mới:
Kiểm soát tốt hơn thao tác copy và paste: Các tính năng hỗ trợ cho các thao tác trên clipboard của Android đã khiến iOS đôi lúc hoạt động không được hiệu quả kể từ khi Apple cho ra mắt phiên bản 3.0 vào giữa năm 2009 cho phép người dùng bôi đen từng ký tự bằng việc sử dụng một chiếc kính lúc để con trở trở nên dễ dàng thao tác bằng ngón tay hơn. Trước khi Gingerbread ra đời, Android chỉ cho phép bôi đen toàn bộ textbox mà thông thường đây lại không phải điều người dùng mong muốn. Nhưng điều này đã được thay đổi ở Gingerbread. Google đã thêm vào tính năng bôi đên với hai thanh chặn có thể di chuyển bằng ngón tay ở mỗi đầu để thay đổi phạm vi bôi đen. Với những cải tiến màn hình home ở Froyo, Google đã bắt kịp những xu hướng thay đổi đã xuất hiện ờ giao diện các OEM của họ (tính năng tương tự đã xuất hiện ở các sản phẩm trước đây của HTC).
Bàn phim cải tiến. Một lần nữa Google đã tinh chỉnh bàn phím ở phiên bản 2.3, và lần này những thay đổi này thực sự rất đáng chú ý – lần đầu tiên thiết kế và màu sắc các phím thay đổi đáng kể kể từ khi bản phím xuất hiện lần đầu tiên ở Cupcake. Hỗ trợ đa chạm điểm được cải tiến với âm thanh nền, cho phép người dùng nhấn các tổ hợp phím để truy cập vào bàn phím biểu tượng một cách nhanh chóng.
Công cụ quản lý pin và chưong trình ứng dụng tốt hơn. Android đã bị một vài người dùng phàn nàn khi tỏ ra quá hiệu quả trong việc hỗ trợ các thao tác đa nhiệm. Bằng cách cho phép các chương trình phần mềm chạy tự do, thời lượng pin luôn luôn ở trong tình trạng cạn kiệt nhanh, đặc biệt khi người dùng sử dụng các ứng dụng có thiết kế nghèo nàn. Ở một vài điểm nào đó, Gingerbread khiến tình trạng này được cải thiện chút ít bằng cách cung cấp tiện ích theo dõi thời lượng pin bằng hình ảnh đồ họa theo thời gian cũng như theo dõi chính xác ứng dụng và tính năng hệ thống nào đang tiêu tốn nhiêu năng lượng nhất (tất nhiên người dùng vẫn phải có nhiệm vụ gỡ bỏ những chương trình ứng dụng tiêu tốn pin và điều chỉnh quá trình sử dụng của mình).
Hỗ trợ camera phía trước. Mặc dù phải đến giữa năm 2010 Google Talk mới hỗ trợ chat video trên điện thoại những Gingerbroad đã đặt nền tàng cho tính năng này bằng việc hỗ trợ nhiều camera trên cũng một thiết bị. Thực tế, Gingerbread đã rất nhìn xa trông rộng khi tích hợp camera ở mặt trước chiếc Nexus S, mặc dù vào thời điểm mới tung ra thị trường, người dúng khó có thể sử dụng camera này vào mục đích gì khác ngoài việc chụp ảnh của chính mình.
Các tính năng mới khác của Gingerbroad được tập trung nhiều hơn vào các nhà phát triển thay vì người dùng: Một ví dụ là NFC được hỗ trợ trên Nexus S thông qua một ăng ten đặc biệt được tích hợp trên nắp pin. Trong nhiều tháng, khả năng này gần như chỉ dừng lại ở mức một tính năng mới lạ - bạn có thể quét các biển báo Google Places ở một vài thành phố để thu thập URL với các thông tin như địa điểm như khả năng của mã QR. Nhưng sau này Google đã sử dụng phiên bản Sprint trên Nexus S để cho ra mắt Google Wallet. Hiện có nhiều công ty đang đánh cược vào tương lai của NFC và hình thức thanh toán di động.
Google cũng coi Gingerbread là cơ hội phát triển ở thị trường game di động vốn không phải là điểm mạnh trên iOS. Phiên bản mới khiến các nhà phát triển cơ cơ hội tiếp cận ở mức thấp hơn và audio, kiểm soát thiết bị, đồ hòa và bộ nhớ, khiến họ có thể viết mã nhanh hơn. Đây rõ ràng là chìa khóa để tạo nên những game 3D đắt giá có đồ họa đẹp mắt mà hệ điều hành vốn đang thiếu hụt.
3.x "Honeycomb"

Honeycomb thực sự là một hiện tượng kỳ lạ - một ngã rẽ trên con đường mòn từ trước tới nay của Google nhằm hướng tới sự thống trị thị trường smartphone. Trên thực tế, Honeycomb không phải nền tảng dành cho smartphone. Google đã quay trở lại với Motorola – đơn vị mà gã khổng lồ từng hợp tác trong lần ra mắt Android 2.0 trên Droid – để cho ra đời một sản phẩm Nexus mới chạy nền tảng Android 3.0.
Mặc dù Honeycomb không thực sự tạo ra được hiệu ứng như Google mong đợi, nó vẫn mang đến những thay đổi cơ bản trong giao diện người dùng Android. Tất cả những thay đổi này đều xuất hiện trong Android 4.0 sau này.
Tông chủ đạo chuyển từ xanh lá cây sang xanh nước biển. Xanh lá xây tưởng chừng sẽ là màu sắc đặc trưng gắn liền với tên gọi Android. Logo của Android mang màu xanh lá cây sáng, và dĩ nhiên trang web chính thức cho Android của Google cũng có màu xanh lá. Tuy nhiên với sự ra đời của Honeycomb, sự thống trị của màu xanh lá đã chấm dứt. Thay vào đó, Honeycomb sử dụng màu xanh nước biển nhẹ cho vạch báo pin và sóng, widget đồng hồ cũng như nhiều chi tiết có tác dụng nhấn mạnh trong giao diện.
Màn hình home và vị trí các widget được thiết kế lại. Thay vì việc lựa chọn widget trên màn hình home từ một danh sách mà không được nhìn thấy trước widget, Honeycomb cho phép người dùng xem trước từng widget có trong hệ thống, và một khi người dùng đã lựa chọn được widget mong muốn, họ có thể đặt widget ở bất kỳ vị trí này trong số năm màn hình home thông qua một màn hình duy nhất chứa hình ảnh toàn bộ năm màn hình home được thu nhỏ. Mặc dù Android thường sử dụng giao diện lưới cho các widget và biểu tượng trên màn hình chủ, Honeycomb đã có cải tiến đáng kể khi cho phép người dùng quản lý các widget và biểu tượng này tốt hơn. Trong khi xem trước các widget, hệ thống sẽ cho người dùng biết chính xác có bao nhiêu ô vuông lưới được sử dụng cho widget đó.
Nút bấm trên thân máy biến mất. Trên tablet chạy nền tảng Honeycomb, các nút bấm Back, Home, Menu, Search như ở các điện thoại sử dụng phiên bản 2.3 và thấp hơn không còn xuất hiện. Thay vào đó, Back và Home là các nút bấm ảo ở một thanh hệ thống hoàn toàn mới phía dưới cùng của màn hình. Bởi đây là các nút bấm ảo nên hệ điều hành có thể hiện thị, ẩn hay thay đổi chúng một cách linh hoạt tùy từng thời điểm.
Khả năng đa nhiệm được cải thiện. Lấy ý tưởng từ webOS (thiết kế webOS của Matias Duarte đã được Google sở hữu vào thời điểm Honeycomb ra mắt), một nút bấm ảo Recent Apps ở phía dưới cùng màn hình cho phép hiển thị danh sách các ứng dụng mới dùng - và quan trọng hơn tính năng chụp ảnh màn hình đã xuất hiện. Ở Gingerbroad và các phiên bản trước đó, việc xem lại các ứng dụng mới được sử dụng được thực hiện nhờ việc ấn và giữ phím Home. Đây là điều người sử dụng rất hiếm khi làm. Hệ thống cũng chỉ hiển thị từng biểu tượng chương trình thay vì hình nhr thu nhỏ của các chương trình đó.
Mô hình bố trí ứng dụng mới. Lần đầu tiên Honeycomb giới thiệu “action bar” đặt ở phía trên mỗi chương trình ứng dụng mà nhà phát triển có thể sử dụng để hiển thị các option thường được truy cập, menu,… Thêm vào đó, Honeycomb cũng hỗ trợ bố trí ứng dụng đa cột.
Android 3.1 và 3.2 là những phiên bản bổ sung và sửa chữa (do đó chúng vẫn giữ nguyên tên gọi Honeycomb). Nhưng chúng cũng mang đến nhiều tính năng quan trọng đã và đang xuất hiện ở hầu hết tablet chạy nền tảng Android 3.0 trên thị trường. Android 3.1 hỗ trợ thao tác thay đổi kích thước widget trên màn hình home thông qua việc sử dụng thanh chặn xuất hiện mỗi khi nhấn và giữ widget; hàng loạt giao diện hỗ trợ thao tác thay đổi kích thước widget trước đây đã quay trở lại giao diện nền tảng gốc ở Android 3.1.
4.0 "Ice Cream Sandwich"
Điều này đã đưa đến sự ra đời gần đây của Android 4.0 trên Galaxy Nexus – sự quay trở lại của gã khổng lồ với các sản phẩm Nexus. Đây là lần hợp tác thứ hai của Google với Samsung sau sự kiện Nexus S cùng Gingerbread ra đời vào năm trước. Ice Cream Sandwich thực sự là sự thay đổi lớn nhất từ trước tới nay của hệ điều hành Android cho điện thoại di động dù nhiều tính năm và thiết kế mới đã xuất hiện ở Honeycomb bao gồm nút bấm ảo, việc chuyển đối tông màu chủ đạo từ xanh lá sang xanh nuwowvs biển, cải thiện hỗ trợ widget, khả năng đa nhiệm với danh sách hình ảnh thu nhỏ và thanh “action bar” cho các ứng dụng.
Trong một thời gian dài người sử dụng Android đã quen với Droid, giao diện ban đầu đã được sử dụng ngay từ phiên bảo 1.0. Ice Cream Sandwich đã được thay thể font chữ Roboto được thiết kế nhằm mục đích tận dụng tối đa màn hình có đội phân giải cao ở các thiết bị hiện nay. Matias Duarte cho biết font chữ trước đây đã phải “rất khó khăn để đảm bảo cả tính rõ ràng và mật độ thông tin trên Ice Cream Sandwich”.
Một trong số những tính năng lâu đời nhất của Android cũng được thiết kế lại ở phiên bản 4.0. Màn hình thông báo vẫn là một trong số các tính năng tuyệt vời nhất trên nền tảng di động, nhưng Ice Cream Sandwich đã cải tiến tính năng này bằng việc cho phép người dùng xóa bỏ từng thông báo riêng biệt chỉ đơn giản bằng thao tác kéo thông báo đó ra khỏi màn hình. Trong các phiên bản trước đó, người dùng chỉ có lựa chọn duy nhất là xóa bỏ toàn bộ thông báo hay ghi nhận thông báo bằng cách ấn vào thông báo đó. Điều này thường khiến họ phải truy cập vào một ứng dụng họ không muốn.
Google đã tinh chỉnh bàn phím ảo của Android ở từng phiên bản kể từ khi cho ra đời Cupcake và Ice Cream Sandwich cũng không phải ngoại lệ. Thực tế đây lại là một cải tiến đáng kể như gã khổng lồ đã từng làm với Gingerbroad. Thiết kế vật lý và bố trí phím không có thay đổi gì lớn, tuy nhiên khả năng tự sửa lỗi chính tả cũng như khả năng gợi ý từ đã được cải thiện. Bên cạnh đó, Ice Cream Sandwich cũng mang lại tính năng kiểm tra chính tả và thay thế - không như iOS – với dòng gạch chân màu đỏ phía dưới những từ sai chính tả và từ điển tại chỗ. Lần đầu tiên khả năng nhập ký tự, hỗ trợ clipboard và chất lượng bản phím ảo của Ice Cream Sandwich sánh ngang được với bất kỳ sản phẩm nào có mặt trên thị trường.
Và đấy mới chỉ là điểm khởi đầu:
Màn hình home được cải tiến hơn nữa. Như chúng tôi đã đề cập ở trên, màn hình home của Ice Cream Sandwich mang rất nhiều cải tiến có từ phiên bản Honeycom. Giờ đây người dùng có thể dễ dàng tạo thư mục chỉ bằng một thao tác đơn giản kéo và thả một biểu tượng vào một biểu tượng khác tại vị trí biểu tượng có hình ảnh ba chiều nổi bật lên bên ngoài một vòng tròn màu đen. Màn hình home cũng xuất hiện “favourites tray”. Không giống như Froyo và Gingerbroad có ứng dụng Phone và Browser được gắn cố định ở phía dưới cùng màn hình, favourites tray cho phép người dùng quyết định đường dẫn tắt ở các vị trí này (mặc định là Phone, People, Messaging và Browser)
Android Beam. Hỗ trợ NFC thực sự thu hút trên Gingerbroad và Nexus S - nhưng ngoài việc sử dụng cho ứng dụng Google Wallet, cho đến nay tính năng này vẫn chưa được sử dụng cho ứng dụng nào khác. Ice Cream Sandwich đã thay đổi điều này bằng một tính năng mới mang tên Android Beam cho phép hai điện thoại trao đổi dữ liệu chỉ bằng cách chạm vảo chúng cùng một lúc.
Khóa máy bằng nhận diện khuôn mặt. Bên cạnh hình thức khóa bằng mật khẩu và hình ảnh đã có từ trước, Android 4.0 cho phép người dùng sử dụng camera phía trước để khóa máy bằng nhận diện khuôn mặt. Tính năng này có thể bị qua mặt chỉ bằng một bức ảnh của chủ nhân chiếc điện thoại mà không phải đích thân người sử dụng. Tuy nhiên trong những trường hợp chỉ yêu cầu tính bảo mật ở mức thấp đến trung bình, đây thực sự là một tính năng thú vị.

Phân tích việc sử dụng dữ liệu. Giống như Gingerbread đã cải thiện tính trực quan của việc sử dụng pin bằng một chương trình ứng dụng, Android 4.0 đã làm được điều tương tự với việc phân tích quá trình sử dụng dữ liệu. Bạn có thể theo dõi tổng thể việc sử dụng tại bất cứ thời điểm này, thêm vào đó bạn cũng có thể theo dõi từng chương trình để biết được chương trình nào đang tiêu tốn megabyte.
Ứng dụng lịch và mail mới. Gmail và các hình thức email truyền thống trên Android 4.0 đã được cải thiện đáng kể với thiết kế mới và hỗ trợ “action bar” – những tính năng thừa kế từ Honeycomb. Lần đầu tiên ứng dụng lịch mang một giao diện thống nhất, thuận tiện cho người dúng siwr dụng nhiều tài khoản trên cùng một thiết bị.
4.1 "Jelly Bean"
Android 4.1 Jelly Bean được thông báo tại hội nghị Google I/O 2012 sẽ là một sản phẩm sẽ làm mọi người bất ngời hơn phiên bản Ice Cream Sandwich trước đó. Phiên bản này là sự khởi động lại chiến dịch Tablet của Google (đã từng được giới thiệu cùng với Nexus 7) và thay đổi lớn về trải nghiệm người dùng được thiết kế lại hoàn toàn từ khi răt mắt trong phiên bản 4.0.
Nhìn qua phiên bản 4.1 – bắt đầu bằng màn hình home screen – có thể bạn sẽ không thấy thay đổi gì nhưng khi nhìn khi, bạn sẽ thấy một loạt các thay đổi và tính năng mới. Và một trong số những đặc điểm quan trọng nhất nằm ở bên trong. Google cho biết, Jelly Bean ra đời nhằm cải tiến hơn nữa giao diện và cảm ứng của Android thông qua đồ họa bộ đệm 3 (triple-buffering) và thay đổi một chút về hệ thống cảm ứng. Tù khi Android xuất hiện trên thị trường, dường như hệ điều hành này luôn tụt lại phía sau một chút về chức năng cảm ứng so với iOS (đặc biệt là khi di chuyển) và những thay đổi trong phiên bản 4.1 hi vọng sẽ giúp thu hẹp khoảng cách này
Trong số tất cả những thay đổi về giao diện người dùng, không còn nghi ngờ gì nữa dịch vụ Google Now là lớn nhất, quan trọng nhất và tham vọng nhất. Google Now sẽ sẽ giúp bạn suy nghĩ và dự đoán những điều bạn cần biết trước khi bạn yêu cầu. Chỉ cần truy cập bằng một cái trượt trên màn hình, Now sẽ xử lý một loạt dữ liệu như lịch trình, địa điểm, thời gian trong ngày v…v… và đưa ra các thẻ thông tin phụ thuộc vào thông tin mà nó cho là quan trọng nhất tại thời điểm đó. Ví dụ như Now sẽ giúp bạn thời gian lái xe về nhà nếu nó phát hiện ra rằng bạn đang ở văn phòng. Now cũng tích hợp một chức năng tìm kiếm ngôn ngữ tự nhiên cải tiến với hệ thống text-to-speech thật nhất từng được cung cấp trên một chiếc điện thoại. Với Jelly Bean, lần đầu tiên bạn có thể sử dụng chức năng dịch giọng nói thành văn bản mà không cần online, có nghĩa là bạn không cần kết nối Wifi vẫn có thể sử dụng được
Sau đay là một số tính năng khác của phiên bản 4.1
Làm mới font Roboto. Font chữ ký của Android lần đầu xuất hiện trong phiên bản 4.0 giờ đã được thiết kế lại với việc sử dụng phong cách mới trên toàn bộ giao diện người dùng (ví dụ như chữ in nghiêng có thể sử dụng trong Google Now) và có chút khác biệt so với trước đây.
Khả năng mở rộng thông báo. Từ lâu, Android đã có hệ thống thông báo đa dạng và tốt nhất (ngoại trừ webOSS) và Android 4.1 sẽ đua nó lên một nấc thang mới. Giờ đây, các nhà lập trình có thể tạo ra nhiều thông báo hơn và có thể mở rộng ngay bên trong thông báo nhằm cung cấp được nhiều thông tin hơn cũng như quản lý tốt hơn mà không cần mở ứng dụng.
Widget linh hoạt. Các widget màn hình chủ có thể thay đổi kích thước lần đầu tiên xuất hiện trên phiene bản Android 3.1 nhưng Jelly Bean sẽ làm cho các widget đó trở nên hữu ích hơn khi chúng có thể tự điều chỉnh size một cách linh hoạt. Việc cố gắng làm cho các widget và các biểu tượng vừa một màn hình vốn là một việc rất khó chịu. Nhưng bây giờ, các widget sẽ điều chỉnh để vừa một không gian cụ thể. Các biểu tượng cũng sẽ chuyển đi để nhường chỗ cho các mục tiêu của bạn, giống như trong iOS.
Dự đoán văn bản. Google đã làm mới rất mạnh mẽ bàn phím stock của Android ở hầu như tất cả các phiên bản mới và phiên bản 4.1 cũng không phải là ngoại lệ. Lúc này, tâm điểm được chuyển từ sửa từ sang dự đoán từ, tính năng đã trở thành thương hiệu của SwiftKey và được áp dụng trong BlackBerry 10. Bàn phím sẽ có gắng đoán từ tiếp theo mà bạn muốn ghi và thích nghi với văn phong của bạn qua thời gian.
Có thể là “Key Lime Pie”?
Phiên bản Android nào sẽ ra đời tiếp có lẽ vẫn cần thời gian. Hiện Google vẫn chưa tiết lộ bất kỳ thông tin gì về đặc điểm hay thiết kế mới sau phiên bản Android 4.1 nhưng nguyên nhân là do các nhà sản xuất thiết bị sẽ tập trung vào việc đưa phiên bản Jelly Bean vào triển khai trên thật nhiều điện thoại và tablet cũ và mới.
Hạnh Vũ/Thepassion.vn
Theo Theverge
ForeverMap2 - Ứng dụng Android cạnh tranh với Google Maps
24-11-2012 11:27pm
Vấn đề nghiêm trọng mà Apple gặp phải
24-11-2012 04:23pm
iTunes 11 sắp được ra mắt
24-11-2012 03:07pm
Mozilla âm thầm ngưng dự án Firefox 64 bit
24-11-2012 02:35pm
Xbox Mini đang được sản xuất?
23-11-2012 07:11pm
Hướng dẫn tùy chình màn hình chính của Android cho người mới sử dụng
24-11-2012 01:46pm
[Android] Nhiếp ảnh dễ dàng hơn với ứng dụng Right Click
23-11-2012 02:15pm
Windows 8 sẽ khó đạt được thành công lớn
22-11-2012 11:42pm
Windows Phone 8 gặp sự cố về hiệu năng hoạt động
20-11-2012 11:47pm
Google luôn cố gắng để trở nên mạnh mẽ hơn Apple
19-11-2012 10:46pm
![[iOS] Timer: Tiện ích hẹn giờ mà bạn không thể thiếu. [iOS] Timer: Tiện ích hẹn giờ mà bạn không thể thiếu.](http://thepassion.vn/sites/default/files/styles/tiny/public/images/timer-ios-6.jpg)


Có 1 Bình luận. Gửi bình luận.